Một số tồn tại trong hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD tại Việt Nam

Download tài liệu đầy đủ tại đây

 

Gây nuôi thương mại động vật hoang dã (ĐVHD) là hoạt động nuôi sinh trưởng và nuôi sinh sản ĐVHD trong môi trường có kiểm soát vì mục đích lợi nhuận. Các ý kiến ủng hộ hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD cho rằng việc đáp ứng nhu cầu thị trường bằng những sản phẩm gây nuôi sẽ giảm thiểu hoạt động săn bắt ĐVHD trong tự nhiên. Các cơ sở gây nuôi ĐVHD còn có thể hỗ trợ công tác bảo tồn bằng cách cung cấp nguồn giống bổ sung hoặc tái thả để phục hồi các quần thể tự nhiên. 

 

 fm-rp

 

Trong thời điểm hiện tại, một khảo sát kỹ lưỡng về tình trạng gây nuôi thương mại ĐVHD tại Việt Nam là hết sức cần thiết. Đây sẽ là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định đúng đắn về hoạt động gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm tại Việt Nam, định hướng chính sách hiệu quả nhằm giảm thiểu đe dọa đối với các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm và tăng cường bảo vệ chúng khỏi nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên.

 

Báo cáo Một số tồn tại trong hoạt động gây nuôi thương mại động vật hoang dã tại Việt Nam - Theo kết quả khảo sát tại 26 cơ sở gây nuôi thương mại động vật hoang dã tại Việt Nam từ tháng 10/2014 đến tháng 7/2015 của ENV được thực hiện để đáp ứng nhu cầu trên, qua việc khảo sát những cơ sở gây nuôi tại Việt Nam bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với chủ cơ sở gây nuôi hoặc người nhà của chủ cơ sở và người làm việc tại cơ sở (nếu chủ cơ sở vắng mặt) trong khoảng thời gian từ tháng 10/2014 đến tháng 7/2015. Do tính chất nhạy cảm của nghiên cứu này, khảo sát được thực hiện bí mật và ẩn danh với sự hỗ trợ của một bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn.

 

Những kết quả chính của khảo sát như sau:

 

  • 26/26 cơ sở có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD ở các mức độ khác nhau, trong đó 16/26 đối tượng được phỏng vấn thừa nhận cơ sở của họ có hành vi nhập lậu ĐVHD.
  • 17/19 đối tượng được phỏng vấn cho biết cơ sở của họ có bán giấy phép vận chuyển, trong đó một đối tượng thậm chí còn đề nghị bán giấy phép vận chuyển cho cán bộ khảo sát.
  • 10/11 đối tượng được phỏng vấn cho biết cơ sở của họ có mua giấy phép vận chuyển từ các cơ sở khác hoặc từ cán bộ kiểm lâm.
  • 18/18 đối tượng được phỏng vấn cho biết cơ sở của họ có mua ĐVHD không kèm giấy phép vận chuyển (ĐVHD bất hợp pháp).
  • 14/14 đối tượng được phỏng vấn cho biết cơ sở của họ có bán ĐVHD không kèm giấy phép vận chuyển.
  • 14/18 đối tượng được phỏng vấn cho biết kiểm lâm có nhận những khoản tiền bất hợp pháp (tiền hối lộ) dưới nhiều hình thức.
  • 17/26 đối tượng được phỏng vấn từ chối hoặc không thể trả lời chính xác số lượng cá thể của từng loài ĐVHD tại cơ sở của họ. Tại 9 cơ sở khác, đối tượng phỏng vấn đã cung cấp cho cán bộ điều tra số lượng cá thể ĐVHD được gây nuôi tại cơ sở, nhưng các con số này không trùng khớp với số lượng ĐVHD đã đăng ký. Đặc biệt, trong số này, 5 cơ sở có số lượng ĐVHD thực tế tại thời điểm khảo sát ít hơn rất nhiều số lượng đăng ký.
  • Hầu hết các cơ sở được khảo sát không chủ ý cho động vật sinh sản. Không có mô hình sinh sản khép kín nào được ghi nhận tại các cơ sở khảo sát.

 

Căn cứ vào khảo sát trên cũng như một số kết quả nghiên cứu khác của ENV, bao gồm kết quả khảo sát ý kiến của các chi cục kiểm lâm về hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD, ENV khuyến nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng nghiêm cấm hoạt động gây nuôi thương mại ĐVHD nguy cấp, quý hiếm, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan, điều tra các cơ sở gây nuôi có dấu hiệu nhập lậu, và tăng cường tinh thần, trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm trong công tác quản lý các cơ sở gây nuôi ĐVHD. Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan kiểm lâm, các kỹ thuật kiểm tra cũng cần được chuẩn hóa trên khắp cả nước, đồng thời với việc xây dựng một hệ thống dữ liệu quốc gia về thông tin các cơ sở đăng ký gây nuôi ĐVHD mà lực lượng kiểm lâm có thể sử dụng để quản lý các hoạt động mua bán, vận chuyển giữa các cơ sở.

 

Download tài liệu đầy đủ tại đây

Chương trình hội viên

Tham gia tình nguyện

Thư viện ảnh hoạt động